Hội chứng sau phẫu thuật cắt túi mật là triệu chứng đau hoặc các triệu chứng ở bụng vẫn tiếp diễn sau khi phẫu thuật cắt túi mật.
(Xem thêm Tổng quan về chức năng mật.)
Hội chứng sau phẫu thuật cắt túi mật xảy ra ở 5% đến 47% số bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật (1, 2). Nó đề cập đến các triệu chứng của túi mật được cho là tiếp tục hoặc phát triển sau cắt túi mật hoặc các triệu chứng khác là kết quả của cắt túi mật. Các triệu chứng phổ biến nhất là tình trạng khó tiêu hoặc các triệu chứng không đặc hiệu khác, bao gồm cảm giác khó chịu mơ hồ ở bụng, đầy hơi hoặc khó tiêu, chứ không phải là cơn đau quặn mật thực sự.
Việc cắt bỏ túi mật đó thường ít gây ra tác dụng bất lợi đến chức năng hoặc áp lực của đường mật. Ở 30% số bệnh nhân mắc hội chứng sau phẫu thuạt cắt túi mật, cơn đau quặn mật dường như là kết quả của những bất thường về chức năng hoặc cấu trúc của cơ thắt Oddi, dẫn đến thay đổi áp lực ở đường mật hoặc làm tăng độ nhạy cảm. Các nguyên nhân khác bao gồm một sỏi ống mật, viêm tụy, và trào ngược dạ dày thực quản. Chít hẹp dạng nhú, hiếm gặp, có thể làm xơ hẹp quanh cơ thắt đó, có thể là do chấn thương và viêm do viêm tụy, dụng cụ (ví dụ: nội soi mật tụy ngược dòng), hoặc trước đó có sỏi đi qua.
Sau khi phẫu thuật cắt túi mật, một số bệnh nhân cũng bị tiêu chảy (tiêu chảy do axit mật) do lượng axit mật quá nhiều đi vào đại tràng. Tiêu chảy này thường tự khỏi nhưng có thể cần điều chỉnh chế độ ăn hoặc điều trị bằng nhựa gắn kết axit mật.
Cần phải cẩn thận xác định các tình trạng trước phẫu thuật như rối loạn chức năng đường tiêu hóa (rối loạn tương tác ruột-não) hoặc bệnh sỏi mật từ trước, vì các triệu chứng của các tình trạng này có thể bị nhầm lẫn với hội chứng sau phẫu thuật cắt túi mật nếu xảy ra sau phẫu thuật (2).
Tài liệu tham khảo chung
1. Lamberts MP, Den Oudsten BL, Gerritsen JJGM, et al. Prospective multicentre cohort study of patient-reported outcomes after cholecystectomy for uncomplicated symptomatic cholecystolithiasis. Br J Surg. 2015;102(11):1402-1409. doi: 10.1002/bjs.9887
2. Nam C, Lee JS, Kim J, et al. Clinical perspectives on post-cholecystectomy syndrome: a narrative review. Ann Med. 2025;57(1):2496408. doi:10.1080/07853890.2025.2496408
Chẩn đoán hội chứng sau cắt túi mật
Loại trừ đau ngoài đường mật
Xét nghiệm
Siêu âm bụng
Đôi khi nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) kèm theo đo áp lực đường mật, chụp cộng hưởng từ mật tụy (MRCP) hoặc chụp CT hoặc chụp hạt nhân đường mật
Bệnh nhân bị đau sau phẫu thuật cắt túi mật cần phải được đánh giá khi có chỉ định để tìm nguyên nhân ngoài đường mật (ví dụ: bệnh trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu do chức năng, bệnh ở tụy) cũng như các nguyên nhân ở đường mật. Nếu cơn đau gợi ý cơn đau quặn mật, cần đo nồng độ phosphatase kiềm, bilirubin, alanine aminotransferase (ALT), amylase và lipase. Các phương thức chẩn đoán hình ảnh để đánh giá đau sau phẫu thuật cắt túi mật bao gồm siêu âm bụng, chụp CT, chụp cộng hưởng từ mật tụy, nội soi mật tụy ngược dòng kèm theo đo áp lực đường mật và chụp hạt nhân đường mật, tùy thuộc vào mức độ nghi ngờ trên lâm sàng và kết quả xét nghiệm ban đầu (xem Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm về gan và túi mật và Kiểm tra chẩn đoán hình ảnh gan và túi mật).
Nồng độ men gan tăng cao gợi ý rối loạn chức năng cơ thắt Oddi; nồng độ amylase và lipase tăng cao gợi ý rối loạn chức năng cơ thắt ở phần tụy. Rối loạn chức năng cơ thắt Oddi được phát hiện tốt nhất bằng cách đo áp lực đường mật được thực hiện trong quá trình nội soi mật tụy ngược dòng, mặc dù nội soi mật tụy ngược dòng kèm theo đo áp lực đường mật có thể gây viêm tụy ở 30% số bệnh nhân (1) và có các hướng dẫn thực hiện thủ thuật cụ thể để phòng ngừa viêm tụy cấp. Áp kế cho thấy tăng áp lực trong đường mật khi bị đau. Thời gian vận chuyển rốn gan - tá tràng bị chậm trên phim chụp cho thấy rối loạn chức năng cơ Oddi.
Chẩn đoán hẹp nhú dựa trên một tiền sử rõ ràng về các cơn đau đường mật tái phát và các xét nghiệm enzym gan bất thường (hoặc tụy). Các nghiên cứu hình ảnh như siêu âm, CT hoặc chụp cộng hưởng từ mật tụy có thể chứng minh những dấu hiệu không đặc hiệu liên quan đến các triệu chứng của hẹp nhú.
Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Tenner S, Vege SS, Sheth SG, et al. American College of Gastroenterology Guidelines: Management of Acute Pancreatitis. Am J Gastroenterol. 2024;119(3):419-437. doi:10.14309/ajg.0000000000002645
Điều trị hội chứng sau phẫu thuật cắt túi mật
Đôi khi dùng thuốc
Đôi khi can thiệp bằng chế độ ăn uống
Đôi khi nội soi mở cơ thắt
Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra.
Đối với tiêu chảy do axit mật, người ta sử dụng thuốc gắn kết axit mật như cholestyramine (1). Đối với các rối loạn chức năng đường tiêu hóa như khó tiêu do chức năng hoặc hội chứng ruột kích thích, phương pháp tiếp cận từng bước bằng cách thay đổi lối sống, thay đổi chế độ ăn uống và dùng thuốc có thể hữu ích. Đối với các triệu chứng đặc trưng sau bữa ăn, có thể sử dụng thuốc kích thích nhu động ruột. Cuối cùng, đối với tình trạng đau mạn tính sau phẫu thuật mà không có nguyên nhân rõ ràng, có thể cần phải chăm sóc đa chuyên khoa, đôi khi bao gồm việc sử dụng thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (ví dụ: duloxetine) để làm giảm triệu chứng.
Nội soi mở cơ thắt có thể làm giảm cơn đau tái phát do rối loạn chức năng cơ vòng Oddi, đặc biệt nếu hẹp nhú. Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) và đo áp lực đã được sử dụng để điều trị cơn đau sau phẫu thuật cắt túi mật; tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy phương pháp điều trị này có hiệu quả nếu bệnh nhân không có các bất thường khách quan. Tuy nhiên, cần phải điều trị các triệu chứng.
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Nam C, Lee JS, Kim JS, et al. Clinical perspectives on post-cholecystectomy syndrome: a narrative review. Ann Med. 2025;57(1):2496408. doi:10.1080/07853890.2025.2496408
