Rối loạn cư xử là một mẫu hành vi thường xuyên hoặc dai dẳng vi phạm quyền của người khác hoặc vi phạm các quy tắc xã hội phù hợp với lứa tuổi. Chẩn đoán dựa trên các tiêu chí lâm sàng. Chẩn đoán dựa vào bệnh sử Điều trị những rối loạn cách cư xử và trị liệu tâm lý có thể giúp; tuy nhiên, nhiều trẻ em cần giám sát đáng kể.
Rối loạn cư xử (CD) là một rối loạn sức khỏe tâm thần được chẩn đoán ở trẻ em và thanh thiếu niên, đặc trưng bởi một mô hình hành vi dai dẳng vi phạm quyền của người khác hoặc các chuẩn mực xã hội. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ hiện mắc của rối loạn cư xử được ước tính dao động từ 3 đến 9% (1, 2). Sự khởi phát thường xảy ra trong thời thơ ấu hoặc ở giai đoạn đầu của vị thành niên, và rối loạn này phổ biến hơn ở nam giới nhiều hơn nữ. Rối loạn này có biểu hiện không đồng nhất và các báo cáo có thể đánh giá thấp tỷ lệ mắc bệnh thực tế trong cộng đồng do sự nhận biết hạn chế và thiếu bằng chứng so với các rối loạn sức khỏe tâm thần khác. Rối loạn cư xử là một tình trạng nghiêm trọng và được coi là nặng hơn rối loạn chống đối gây hấn vì tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến hành vi phản xã hội và vi phạm pháp luật.
Tài liệu tham khảo chung
1. Nock MK, Kazdin AE, Hiripi E, Kessler RC. Prevalence, subtypes, and correlates of DSM-IV conduct disorder in the National Comorbidity Survey Replication. Psychol Med. 2006;36(5):699-710. doi:10.1017/S0033291706007082
2. Fairchild G, Hawes DJ, Frick PJ, et al. Conduct disorder. Nat Rev Dis Primers. 2019;5(1):43. Xuất bản ngày 27 tháng 6 năm 2019. doi:10.1038/s41572-019-0095-y
Căn nguyên của rối loạn cư xử
Căn nguyên bên trong rối loạn cư xử có thể là sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố di truyền và môi trường. Một phân tích tổng hợp cho thấy các yếu tố môi trường có thể có ảnh hưởng lớn hơn một chút trong việc xác định các hành vi chống đối xã hội so với các yếu tố di truyền, không có sự khác biệt đáng kể về nguyên nhân dựa trên giới tính được xác định trong các nghiên cứu bao gồm cả nam và nữ (1). Các nghiên cứu liên kết trên toàn bộ hệ gen chưa tìm thấy các gen ứng cử viên có thể tái tạo một cách nhất quán hoặc các đa hình nucleotide đơn liên quan đến cơ chế bệnh sinh của nó (2). Giảm khả năng phản ứng của hạch hạnh nhân đối với các tín hiệu gây căng thẳng và rối loạn chức năng ở vỏ não trước trán vùng bụng giữa và thể vân có thể dẫn đến thiếu hụt trong việc ra quyết định ở những trẻ em và thanh thiếu niên này. Sự khác biệt về chủng tộc và giới tính đã được xác định trong tỷ lệ hiện mắc của rối loạn cư xử (3).
Cha mẹ của thanh thiếu niên bị rối loạn cư xử thường có hành vi sử dụng chất kích thích và chống đối xã hội và thường được chẩn đoán mắc rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), rối loạn tâm trạng, tâm thần phân liệt hoặc rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Tetrahydrocannabinol (THC) đã được báo cáo là một yếu tố nguy cơ của bạo lực thể chất ngay cả khi các yếu tố kinh tế xã hội và việc sử dụng chất kích thích khác được tính đến (4). Việc sinh sống ở khu đô thị, tình trạng kinh tế xã hội của cha mẹ thấp hơn và việc cha mẹ ly hôn có liên quan đến rối loạn cư xử. Tuy nhiên, rối loạn cư xử có thể xảy ra ở trẻ em từ các gia đình có quyền chức cao, lành mạnh.
Tài liệu tham khảo về căn nguyên
1. Rhee SH, Waldman ID. Genetic and environmental influences on antisocial behavior: a meta-analysis of twin and adoption studies. Psychol Bull. 2002;128(3):490-529.
2. Blair RJ. The neurobiology of psychopathic traits in youths. Nat Rev Neurosci. 2013;14(11):786-799. doi:10.1038/nrn3577
3. Shalaby N, Sengupta S, Williams JB. Large-scale analysis reveals racial disparities in the prevalence of ADHD and conduct disorders. Sci Rep. 2024;14(1):25123. Xuất bản ngày 24 tháng 10 năm 2024. doi:10.1038/s41598-024-75954-
4. Dellazizzo K, Potvin S, Dou BY, et al. Association between the use of cannabis and physical violence in youths: A meta-analytical investigation. Am J Psychiatry. 177(7):appi.ajp.2020.1, 2020. https://doi.org/10.1176/appi.ajp.2020.19101008
Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn cư xử
Trẻ em hoặc thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn cư xử thiếu sự nhạy cảm với cảm xúc và hạnh phúc của người khác và đôi khi hiểu lầm hành vi của người khác là đe dọa. Họ có thể hành động một cách hung hăng, bằng cách bắt nạt và đe dọa, đánh đập hoặc sử dụng vũ khí, có hành động tàn ác về thể xác, hoặc ép buộc một người vào hoạt động tình dục, và có ít hoặc không có cảm giác hối hận. Đôi khi sự hung hăng của trẻ hướng vào động vật. Trẻ em hoặc thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn cư xử có thể phá hoại tài sản, nói dối và trộm cắp. Họ chịu đựng sự thất vọng kém và thường là thiếu thận trọng, vi phạm các quy tắc và những điều cấm của phụ huynh (ví dụ như chạy trốn khỏi nhà, thường xuyên trốn học).
Hành vi sai trái khác nhau giữa các giới tính: Nam có xu hướng đánh nhau, ăn cắp, và phá hoại; nữ có thể dối trá, chạy trốn, và tham gia vào mại dâm. Cả nam và nữ đều có khả năng sử dụng ma túy bất hợp pháp và gặp khó khăn trong học tập. Ý tưởng tự sát là phổ biến, và những nỗ lực tự sát được thực hiện nghiêm túc.
Chẩn đoán rối loạn cư xử
Đánh giá tâm thần
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth edition, Text Revision (DSM-5-TR) criteria
Rối loạn cư xử được chẩn đoán ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên đã thể hiện ≥ 3 trong số các hành vi sau đây trong 12 tháng trước cộng với ít nhất 1 trong 6 tháng trước (1):
Hành hung đối với người và động vật
Phá hủy tài sản
Lừa dối, nói dối, trộm cắp
Vi phạm nghiêm trọng các quy tắc của phụ huynh
Các triệu chứng hoặc hành vi phải đủ đáng kể để làm suy giảm chức năng trong các mối quan hệ, ở trường, hoặc tại nơi làm việc. Các đặc điểm vô cảm (ví dụ: giảm cảm giác tội lỗi, vô tâm, hành vi thờ ơ và giảm khả năng đồng cảm) đã được thêm vào làm một tiêu chuẩn xác định (tức là thuật ngữ mô tả bản chất của tình trạng) trong chẩn đoán rối loạn cư xử của DSM-5-TR.
Tài liệu tham khảo về chẩn đoán
1. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, Text Revision (DSM-5-TR), Washington: American Psychiatric Association, 2022.
Điều trị rối loạn cư xử
Thuốc điều trị các bệnh kèm theo
Tâm lý trị liệu
Đôi khi đặt trong một trung tâm dân cư
Rối loạn cư xử đặt ra những thách thức đáng kể trong điều trị do khó khăn trong việc thu hút sự tham gia của bệnh nhân một cách phù hợp, bệnh nhân thiếu nhận thức về bản thân và/hoặc cảm giác tội lỗi, cũng như sự hiện diện của các bệnh lý đồng mắc và các yếu tố môi trường. Phương pháp phối hợp bao gồm điều trị bằng thuốc và điều trị tâm lý thường được khuyến cáo để tối ưu hóa kết quả điều trị. Điều trị các bệnh kèm theo bằng thuốc và liệu pháp tâm lý có thể cải thiện lòng tự trọng và khả năng tự kiểm soát và cuối cùng là cải thiện khả năng kiểm soát rối loạn cư xử.
Các loại thuốc có thể bao gồm thuốc kích thích như methylphenidate, được biết là có tác dụng làm giảm việc sử dụng chất gây nghiện và tội phạm (1, 2). Các chất kích thích cũng có thể làm giảm hoạt động tội phạm. Các thuốc ổn định tâm trạng và thuốc chống loạn thần không điển hình, đặc biệt là việc sử dụng risperidone trong thời gian ngắn, cũng có thể hữu ích. Tuy nhiên, việc sử dụng nó ở các bé trai có thể bị hạn chế bởi các tác dụng bất lợi bao gồm chứng vú to ở nam giới (3). Bằng chứng chất lượng thấp hơn hỗ trợ việc sử dụng các thuốc khác như aripiprazole, ziprasidone và quetiapine (4). Nếu có kèm theo rối loạn tâm trạng, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) cũng có thể cần thiết (ví dụ: citalopram).
Liệu pháp tâm lý, bao gồm các phương pháp như liệu pháp nhận thức hành vi, liệu pháp gia đình, điều chỉnh hành vi và liệu pháp dành cho cha mẹ, là một thành phần quan trọng trong điều trị rối loạn cư xử. Liệu pháp tâm lý giúp các cá nhân học được kỹ năng giải quyết vấn đề, cải thiện tương tác xã hội, kiểm soát cơn giận và điều chỉnh các hành vi gây rối. Việc thiết lập mục tiêu điều trị có thể giúp cải thiện mức thuyên giảm triệu chứng. Việc răn dạy và sự khiển trách thường không có hiệu quả và nên tránh.
Thông thường, trẻ em và thanh thiếu niên có rối loạn tâm thần nghiêm trọng có thể phải được đưa vào các trung tâm nội trú, nơi hành vi của trẻ có thể được kiểm soát một cách thích hợp, nhờ đó tách trẻ ra khỏi môi trường mà có thể góp phần gây ra hành vi lệch lạc.
Nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc xác định các yếu tố góp phần tạo ra sự khác biệt trong rối loạn cư xử; định kiến văn hóa và phân biệt chủng tộc có hệ thống là những yếu tố quan trọng.
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Balia C, Carucci S, Coghill D, Zuddas A. The pharmacological treatment of aggression in children and adolescents with conduct disorder. Do callous-unemotional traits modulate the efficacy of medication? Neurosci Biobehav Rev. 2018;91:218-238. doi:10.1016/j.neubiorev.2017.01.024
2. Greenhill LL, Pliszka S, Dulcan MK, et al. Practice parameter for the use of stimulant medications in the treatment of children, adolescents, and adults. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 2002;41(2 Suppl):26S-49S. doi:10.1097/00004583-200202001-00003
3. Pringsheim T, Hirsch L, Gardner D, Gorman DA. The pharmacological management of oppositional behaviour, conduct problems, and aggression in children and adolescents with attention-deficit hyperactivity disorder, oppositional defiant disorder, and conduct disorder: a systematic review and meta-analysis. Part 2: antipsychotics and traditional mood stabilizers. Can J Psychiatry. 2015;60(2):52-61. doi:10.1177/070674371506000203
4. Loy JH, Merry SN, Hetrick SE, Stasiak K. Atypical antipsychotics for disruptive behaviour disorders in children and youths. Cochrane Database Syst Rev. 2017;8(8):CD008559. Xuẩ bản ngày 9 tháng 8 năm 2017. doi:10.1002/14651858.CD008559.pub3
Tiên lượng về rối loạn cư xử
Thông thường, các hành vi gây rối sẽ chấm dứt vào đầu tuổi trưởng thành, nhưng các hành vi này cũng có thể kéo dài suốt cuộc đời. Nhiều trường hợp trong số này đáp ứng các tiêu chuẩn của rối loạn nhân cách chống đối xã hội, có thể xảy ra ở tới 50% số thanh thiếu niên bị bệnh (1). Khởi đầu sớm có liên quan đến tiên lượng kém. Trẻ em có tính cách vô cảm thường thể hiện sự thiếu đồng cảm và cảm giác tội lỗi, và thường có tiên lượng xấu và phản ứng điều trị kém.
Trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn cư xử thường có tỷ lệ mắc kèm các bệnh lý nội khoa và rối loạn tâm thần khác cao hơn. Một số trẻ em và thanh thiếu niên sau đó bị rối loạn tâm trạng hoặc lo âu, triệu chứng cơ thể hoặc rối loạn liên quan, rối loạn liên quan đến chất kích thích hoặc rối loạn tâm thần khởi phát sớm ở tuổi trưởng thành.
Tài liệu tham khảo về tiên lượng
1. National Collaborating Centre for Mental Health (UK); Social Care Institute for Excellence (UK). Antisocial Behaviour and Conduct Disorders in Children and Young People: Recognition, Intervention and Management. Leicester (UK): British Psychological Society; 2013.
Những điểm chính
Trẻ em có rối loạn cư xử thường xuyên có hành vi hung hăng, vi phạm quyền của người khác và/hoặc các chuẩn mực hay quy tắc xã hội; chúng thường ít hoặc không có cảm giác hối hận.
Các hành vi gây rối tiếp tục kéo dài đến tuổi trưởng thành ở khoảng một phần ba số bệnh nhân; nhiều trường hợp trong số này sau đó đáp ứng các tiêu chuẩn của rối loạn nhân cách chống đối xã hội.
